Mô tả phương pháp tính âm lịch Việt Nam được dùng trong công cụ này.
Âm lịch Việt Nam là lịch âm-dương: tháng theo chu kỳ Mặt Trăng, năm theo chu kỳ Mặt Trời. Năm quy tắc nền tảng:
1. Số ngày Julius (JDN). Mọi ngày dương lịch được quy về một số nguyên duy nhất, gốc tại 12:00 trưa ngày 1/1/4713 TCN theo lịch Julius. Công thức Meeus cho phép chuyển đổi hai chiều giữa JDN và ngày/tháng/năm Gregorian.
2. Ngày Sóc. Sóc thứ k (k = 0 ứng với Sóc ngày 1/1/1900) được tính theo công thức xấp xỉ có ba số hiệu chỉnh: evection (nhiễu loạn do Mặt Trời), annual equation (biến thiên năm) và variation (dao động ngắn hạn). Số ΔT bổ chính chênh lệch giữa Terrestrial Time và Universal Time. Chu kỳ trung bình là 29,530589 ngày.
3. Kinh độ Mặt Trời. Để xác định Trung khí, tính kinh độ hoàng đạo của Mặt Trời tại đầu mỗi ngày. Đường hoàng đạo 360° chia thành 12 cung (mỗi cung 30°); ranh giới mỗi cung là một Trung khí. Cung số 9 (270°) là Đông chí.
4. Cấu trúc năm âm. Tìm ngày Sóc ngay trước Đông chí năm hiện tại (gọi là A) và Đông chí năm sau (gọi là B). Nếu B − A > 365 ngày thì năm đó nhuận. Duyệt từng tháng sau A: tháng đầu tiên mà cung Mặt Trời đầu tháng bằng cung đầu tháng kế tiếp (tức không có Trung khí nằm trong) chính là tháng nhuận.
5. Chuyển đổi. Từ JDN của một ngày dương, xác định Sóc chứa ngày đó, đếm số tháng từ A để suy ra tháng và năm âm. Chiều ngược lại: từ ngày/tháng/năm âm, tính offset tháng so với A rồi tra Sóc tương ứng.
Can Chi năm: Can = (năm + 6) mod 10, Chi = (năm + 8) mod 12. Can Chi tháng và ngày tính tương tự từ JDN và số tháng âm.
Giờ Hoàng đạo: 12 giờ trong ngày (mỗi giờ = 2 tiếng) được phân loại Hoàng đạo / Hắc đạo theo chu kỳ 6 ngày, tra từ bảng cố định 6 hàng × 12 cột.
Tiết khí: 24 tiết chia đường hoàng đạo thành 24 phần bằng nhau (15°/tiết), tính từ kinh độ Mặt Trời tại đầu ngày.
Kết quả khớp với lịch pháp định từ 1976 đến nay. Giai đoạn 1946–1975 có thể lệch do thay đổi múi giờ tính lịch giữa các miền và thời kỳ. Trước 1812, lịch Việt Nam dùng phép Đại Thống thay vì Thời Hiến nên sẽ khác với kết quả thiên văn hiện đại.
Giới hạn tương lai (~2800 trở đi) là do ΔT — độ chậm dần của tự quay Trái Đất — không thể dự báo chính xác, không phải giới hạn của công thức toán học.